Hướng dẫn trình bày một Báo cáo khoa học, bảo vệ tốt nghiệp. Word -ppt

——————————————————————-Word————————————————————————-

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Biên soạn: Quách Tuấn Ngọc

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN SINH VIÊN 

KHI LÀM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

(Biên soạn 5/1998. Bản sửa ngày 31/3/2004. Chỉnh lý 2007)

  1. Lời giới thiệu

Có thể nói luận văn tốt nghiệp là một tác phẩm vô cùng quan trọng, là đứa con tinh thần của thời sinh viên. Song làm như thế nào, viết như thế nào, bảo vệ như thế nào thì sinh viên còn có quá nhiều bỡ ngỡ và có thể nói đó là cả một quá trình công nghệ giáo dục. Chính vì vậy chúng tôi viết bản hướng dẫn này nhằm giúp sinh viên phần nào tháo gỡ các khó khăn ấy. Nếu các bạn sinh viên, các thầy cô giáo có góp ý bổ sung thêm, xin cứ mạnh dạn trao đổi. Mọi ý kiến phê bình đều được trân trọng để cuối cùng luận văn tốt nghiệp của sinh viên sẽ trở nên ngày càng sáng giá hơn.

Mọi góp ý hoặc yêu cầu copy tệp văn bản gốc này xin gửi tới địa chỉ:

            Quách Tuấn Ngọc

            email:  qtngoc@moet.edu.vn

 

  1. Thuật ngữ

- Luận án tốt nghiệp hay đồ án tốt nghiệp, dùng cho hệ kĩ thuật, công nghệ.

- Luận văn tốt nghiệp dùng cho hệ khoa học xã hội, nhân văn.

- Luận văn cao học.

- Luận án Tiến sĩ.

Trong khuôn khổ tài liệu này, chúng tôi thống nhất dùng chung một thuật ngữ đại diện là luận văn tốt nghiệp. Trong điều kiện cụ thể của hệ đào tạo, người đọc có thể thay thế cho phù hợp.

  1. Mục đích làm luận văn

Luận văn tốt nghiệp là một dịp rất tốt để sinh viên

- Rèn luyện kĩ năng tổng hợp các kiến thức đã học trên mọi phương diện.

- Rèn luyện tính tự chủ và tinh thần trách nhiệm trong công việc.

- Độc lập, tự chủ tạo ra một bản thiết kế, một bản luận văn hay đồ án hoàn chỉnh.

  1. 3 câu hỏi lớn khi làm luận văn tốt nghiệp

Quá trình làm luận văn tốt nghiệp hay nhận nhiệm vụ thực tập, sinh viên cần nhớ và trả lời được 3 câu hỏi lớn như sau:

  1. 1.      Làm gì ?
  2. 2.     Làm như thế nào ?
  3. 3.     Kết quả ra sao ?

Trả lời tốt được 3 câu hỏi trên sẽ dẫn đến thành công và giúp sinh viên giải quyết được những lúng túng.

Làm gì ?  Nhiệm vụ được giao hoặc tự mình xác định cần phải giải quyết.

Làm như thế ?  Phần này bao gồm những ý chính như sau:

- Tổng hợp, phân tích, đánh giá những cái người khác đã làm (trong nước và quốc tế).

- Ghi chép lại các tài liệu tham khảo, website, phần mềm … tham khảo để trích dẫn và để xếp vào phần phụ lục.

- Đề xuất ra phương án giải quyết của mình. Chứng minh, lí giải vì sao chọn phương án như thế.

- Thiết kế chi tiết theo đề xuất của mình.

- Trao đổi và tham khảo ý kiến của thầy hướng dẫn là vô cùng quan trọng. Nhưng điều kiện tiên quyết để có kết quả tốt là SV phải động nóo, phải lao động, tránh tình trạng ỷ lại.

 

Kết quả ra sao ?

- Kết quả mình đã làm như các kết quả điều tra, kết quả phần cứng, phần mềm, các biểu bảng, hình vẽ…),

- Đánh giá kết quả, so sánh với ý muốn ban đầu, so sánh với kết quả của người khác…

- Đề ra phương hướng khắc phục những cái chưa giải quyết được …

Với tư duy của 3 câu hỏi trên, các bạn sinh viên sẽ yên tâm thoát khỏi sự lúng túng.

Phần sau đây sẽ trình bày chi tiết hơn các công việc phải làm.

  1. Yêu cầu đối với sinh viên
  2. Sinh viên phải có trách nhiệm định kỳ gặp thầy giáo hướng dẫn để báo cáo công việc đã làm trong tuần và xin ý kiến về các công việc tiếp theo. Hoặc thầy trò liên lạc nhau qua email, qua skype (hình tiếng, chat)… là phương tiện liên lạc tiện lợi, nhanh chóng.
  3. Liên hệ và thoả thuận với thầy về điều kiện và phương tiện làm việc. Khi được thầy giáo hướng dẫn bố trí nơi làm thì sinh viên phải làm việc tại phòng máy và có trách nhiệm bảo quản máy móc và các trang thiết bị khác và tuân thủ nội qui phòng máy hoặc phòng thí ngiệm…
  4. Đảm bảo thời gian làm việc. Về nguyên tắc, sinh viên phải có mặt tại nơi làm việc 8 giờ/ngày. Khi sinh viên đi làm tại cơ quan ngoài, sinh viên phải tuân thủ mọi chế độ làm việc, thời gian làm việc và chịu sự quản lí của cơ sở bên ngoài.
  1. Kỉ luật

Trước khi bảo vệ tốt nghiệp, Khoa tổ chức Hội đồng xét duyệt tư cách bảo vệ tốt nghiệp và xem xét nghiêm túc các trường hợp sau:

  1. Sinh viên cả đợt làm luận văn tốt nghiệp không gặp thầy giáo hướng dẫn sau lần giao nhiệm vụ đầu tiên, hàng tuần không báo cáo tiến độ thực hiện sẽ bị xử lí như là không làm luận văn và bị đình chỉ, không được bảo vệ luận văn.
    1. Đến hạn không nộp báo cáo sẽ bị coi như không làm luận văn.
    2. Người hướng dẫn đánh giá luận văn không đạt yêu cầu thì luận văn sẽ không được xét cho bảo vệ.
  1. Các bước tiến hành khi làm luận văn tốt nghiệp

1)     Nhận đề tài

2)     Tìm tài liệu tham khảo. Đây là khâu rất quan trọng. Có tài liệu tham khảo tốt sẽ đảm bảo luận văn thành công tốt.

3)     Nghiên cứu sơ bộ tài liệu và đề tài, sau đó viết đề cương (sơ bộ) của luận văn và thông qua giáo viên hướng dẫn. Đề cương sẽ giúp sinh viên khái quát vấn đề trước khi đi vào chi tiết. Cái tổng thể phải được hình dung trước, làm trước cái chi tiết.

4)     Tiến hành nghiên cứu lí thuyết, làm thực nghiệm theo nội dung đề tài đã được vạch ra trong đề cương. Vừa làm vừa viết luận văn để kịp thời gian và dễ xử lí.

5)     Báo cáo sơ bộ với thầy giáo hướng dẫn tình hình thực hiện đề cương và kết quả nghiên cứu.

6)     Hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp.

7)     Nộp luận văn cho thầy hướng dẫn duyệt lần cuối.

8)     Chỉ nên đóng bìa đồ án hoàn chỉnh sau khi có ý kiến của giáo viên hướng dẫn và có thể của giái viên phản biện.

9)     Nộp luận văn cho bộ môn hoặc khoa.

10)Chuẩn bị bảo vệ tốt nghiệp: chuẩn bị phim trình chiếu, bảo vệ thử, viết tóm tắt nội dung bảo vệ, chuẩn bị máy tính và máy chiếu, bản vẽ các loại …

  1. Trình bày luận văn tốt nghiệp

Luận văn thể hiện kết quả cuối cùng của cả quá trình làm luận văn tốt nghiệp. Báo cáo Luận văn tốt nghiệp là một cơ sở quan trọng để các thầy giáo và hội đồng chấm điểm.

- Chữ Việt: Soạn thảo trên Win Word với bộ chữ unicode theo tiêu chuẩn TCVN-6909 để dễ lưu trữ, trao đổi, khai thác. Hoặc phông chữ ABC (Tuy nhiên đứng ở góc độ mĩ thuật văn bản thì phông chữ Việt Unicode chưa đẹp).

- Chữ viết qui định là New Time Roman, cỡ chữ 13 như dòng chữ này, cách dòng đơn. Hoặc cỡ chữ 14.

Hoặc chữ  Arial, cỡ chữ 12, cách dòng đơn như dòng này.

- Khổ giấy A4, lề trái 4,0 cm, lề phải 2,0-2,5 cm, lề trên: 2,0 cm, lề dưới: 2,0 cm như mẫu bản hướng dẫn này. Sở dĩ để lề to hơn là vì để chỗ cắt xén và chỗ cho giáo viên phản biện nhận xét.

- Bìa: không nên đóng bìa các-tông mầu xanh, chữ vàng vì rất tối, khó nhìn. Nên đóng bìa ngoài là phim mica trong suốt. Bìa sau là bìa mầu để còn có thể dán phong bì đựng đĩa. Gáy bìa nên viết tên sinh viên, lớp và tên luận văn để khoa và các thầy dễ tìm kiếm.

- Công cụ vẽ trong luận văn: nên lưu ý sử dụng bộ công cụ Visio (của Microsoft) để vẽ không chỉ sơ đồ các loại máy tính, mạng máy tính … mà còn cả sơ đồ phân tích và thiết kế hệ thống. Ngoài ra phần mềm này còn hữu ích cho rất nhiều chuyên ngành khác: điện, điện tử… và dùng Visio Home đối với các ngành kiến trúc, xây dựng…

  1. Một số vấn đề về bản quyền

Luận văn tốt nghiệp thường được hiểu là có hai loại:

-  Thực hiện một nhiệm vụ nào đó để hoàn thành quá trình học tập, nhận bằng tốt nghiệp. Sinh viên có thể tự xoay sở điều kiện làm việc để hoàn thành luận văn. Sinh viên có quyền khai thác và sử dụng luận văn của mình vào những việc khác.

-  Thực hiện một đề tài, một nhiệm vụ trong ý đồ chiến lược, trong chương trình và đề tài nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất của thầy giáo, của cơ sở đào tạo (Trung tâm, Viện nghiên cứu, các Công ty). Cơ sở đào tạo cung cấp các phương tiện và điều kiện làm việc khác: máy móc, sách vở, điện thoại, truy cập Internet, máy in, dụng cụ thiết bị thí nghiệm … Trong trường hợp này, toàn bộ bản quyền không thuộc về sinh viên. Sinh viên chỉ là một người tham gia thực hiện. Sản phẩm làm ra, sinh viên không được tuỳ tiện sử dụng ở những nơi khác với mục đích khác.

Vai trò của thầy hướng dẫn là định hướng và cho ý tưởng đề tài, cung cấp các tài liệu tham khảo (nếu có), tạo điều kiện cơ sở vật chất (chỗ ngồi, máy tính, máy in, vật tư tiêu hao, phương tiện thông tin liên lạc,  Internet …) để hoàn thành công việc. Khi có ý tưởng tốt + tài liệu tham khảo tốt thì luận văn đã hoàn thành được tới  hơn 50%.

  1. Thời gian nộp luận văn

- Thời gian nộp bản nháp luận văn lần cuối cho thầy giáo hướng dẫn: thông thường 2 tuần trước khi bảo vệ để thầy hướng dẫn chỉnh sửa lần cuối cùng. Khoảng thời gian nộp bản nháp luận văn cuối cùng ít nhất là 1 tuần.

- Thời gian nộp cho khoa: thông thường 7 ngày trước khi bảo vệ.

  1. Đề cương viết luận văn

Dựa vào nội dung bố cục luận văn và yêu cầu tại các phần 3, 4 của các bước tiến hành làm luận văn tốt nghiệp, sinh viên cần lập đề cương viết luận văn cho thầy hướng dẫn kèm theo báo cáo kết quả đã làm để thầy giáo có thể chỉnh sửa, hướng dẫn và tháo gỡ khó khăn gặp phải. Đề cương này đóng vai trò quan trọng, giúp sinh viên có một khung tổng quát về luận văn của mình, sau đó mới viết chi tiết.

  1. Bố cục luận văn tốt nghiệp

 

Nội dung luận văn có thể gồm nhiều phần. Trong đó một số phần có thể có nhiều chương.  Sau đây là một số gợi ý để sinh viên tham khảo.

  • Nhiệm vụ luận văn có thể là tổng hợp của nhiều phần như sau:

-         Thiết kế một máy công tác, một dây chuyền sản xuất …

-         Xây dựng một hệ thống tin học tương đối hoàn chỉnh.

-         Phân tích – thiết kế hệ thống, lập chương trình …

-         Thiết kế và thi công mạch điện tử (phần cứng),

-         Đọc tài liệu và tổng hợp kiến thức,

-         Khai thác phần mềm, viết tài liệu hướng dẫn sử dụng.

Như vậy một luận văn, luận văn có khi chỉ là đọc sách, tổng hợp biên tập lại sao cho dễ hiểu, tổng quan, đầy đủ với các phân tích của sinh viên, không nhất thiết phải ra một phần mềm, một cái máy.

  • Lời cảm ơn: thầy giáo hướng dẫn và các cán bộ hỗ trợ, các cơ sở đào tạo liên quan …
  • Phần mục lục.
    • Chương 1.    Giới thiệu chung về chủ đề của luận văn. Bối cảnh ra đời. Nhu cầu thực tiễn về sản xuất hoặc NCKH.
    • Chương 2.   Tổng hợp kiến thức liên quan đến luận văn.
    • Chương 3.  Phân tích nhiệm vụ. Nêu các phương án thực hiện khác nhau và so sánh, đánh giá lựa chọn một giải pháp thích hợp.
    • Chương 4.  Thiết kế và thực hiện phương án lựa chọn của mình. Trong đó cuối phần này có báo cáo kết quả thực nghiệm và sản phẩm (phần mềm, phần cứng) và đánh giá kết quả.  Đây là phần thể hiện thành quả của sinh viên nên là phần quan trọng nhất, cần nói rõ kết quả đã đạt được do chính sinh viên làm ra để các thầy dễ đánh giá.
      • Chương 5.  Kết luận và định hướng phát triển tiếp (nếu có).
      • Phần phụ lục:

-         Cụm từ điển giải thích thuật ngữ tiếng Anh có liên quan.

-         Tài liệu tham khảo (kể cả các luận văn năm trước). Nên ghi theo thứ tự: Tên tác giả (1 dòng) Tên sách, bài…, Nhà xuất bản, Năm xuất bản.

-         Danh mục các địa chỉ website liên quan đến luận văn.

-         Thư mục và nội dung đĩa mềm kèm theo (nếu có).

Về tài liệu tham khảo: Có thể làm theo quy định cách liệt kê tài liệu tham khảo của Anh hoặc Mỹ là có tính ưu việt hơn cả.

Tên tác giả, năm công trình xuất bản, tên tài liệu (bài báo/công trình khoa học, sách…), (tên tạp chí, tập bao nhiêu), Nhà xuất bản, (Nơi xuất bản), bao nhiêu trang (sách, báo cáo) hoặc từ trang bao nhiêu đến trang bao nhiêu.

Tác giả (hoặc nhiều tác giả trùng tên họ) có nhiều công trình/bài báo trong 1 năm nên đánh ký hiệu a, b, c… Ví dụ:

Quách Tuấn Ngọc, 2004a, Ngôn ngữ lập trình PASCAL

Quách Tuấn Ngọc, 2004b, Ngôn ngữ lập trình C

Quách Tuấn Ngọc, 2004c, Ngôn ngữ lập trình C++

  1. Thư mục và nội dung đĩa mềm kèm theo

Đĩa mềm hoặc đĩa CD kèm theo mỗi luận văn để lưu trữ cần có:

  1. Tệp văn bản của báo cáo luận văn.
  2. Chương trình nguồn.
  3. Các bản vẽ sơ đồ cần thiết.

Để tránh thất lạc và nhầm lẫn, đĩa mềm hay CD được để trong túi nilon và kẹp ghim hoặc dán vào trang bìa 3 của báo cáo. Trên nhãn đĩa cần ghi rõ: Họ và Tên sinh viên và Lớp, thời gian làm thực tập.  Đĩa này được nộp cho thầy giáo hướng dẫn để lưu trữ và có thể đem theo để trình bày trước Hội đồng. Bạn cần viết một trang hướng dẫn trên đĩa có gì, chức năng của từng tệp trên đĩa…

Hiện nay nội dung nhiều luận văn tốt nghiệp đã vượt quá khuôn khổ đĩa mềm nên cần phải lưu trữ trên đĩa CD. Thí dụ các luận văn nghiên cứu về phần mềm Multimedia trên Windows có dung lượng dữ liệu khá lớn. Rất may cho các bạn sinh viên: Giá thành làm đĩa CD-R trắng hiện nay đã khá rẻ: 3000-15000 đồng (tuỳ loại).

Lưu ý 1:  trong quá trình viết luận văn, nhớ thường xuyên sao lưu (back up) kết quả ra đĩa mềm để tránh mất mát và hỏng hóc dữ liệu. Không chấp nhận lời báo cáo do bị hỏng đĩa, bị virus … nên không còn kết quả luận văn tốt nghiệp.

 

Lưu ý 2: phân lượng giữa các phần viết phải cân đối. Phần IV là phần sinh viên làm phải chiếm số trang cân xứng, đủ lớn. Tránh sự mất cân đối là phần tổng hợp kiến thức (thường là dịch sách, chép từ tài liệu tham khảo) thì viết nhiều còn phần thiết kế thì ít. Điều này rất kị:  người chấm hiểu rằng sinh viên không có gì sáng tạo mới, chỉ đi chép ở sách ra.

Về cách viết cho sản phẩm (phần mềm, phần cứng…) của sinh viên: Nhiều sinh viên lúng túng khi thấy các công cụ tin học đã làm giúp cho mình gần hết nên không biết viết gì nữa. Điều đó thể hiện sinh viên chưa nắm rõ mục đích của luận văn tốt nghiệp. Sinh viên cần phải viết rõ quá trình thiết kế phần mềm, phần cứng  của mình chứ không chỉ là mô tả sử dụng và mô tả chức năng phần mềm của mình. Viết sao cho người khác không biết gì, các bạn sinh viên khác sau khi đọc luận văn của mình cũng có thể thực hiện lại được. Với mục đích như vậy các bạn có thể sản xuất ra nhiều trang luận văn có giá trị.


  1. Đánh giá kết quả

Điểm luận văn gồm 3 điểm:

-         Điểm của thầy giáo hướng dẫn,

-         Điểm của thầy phản biện đọc quyển,

-         Điểm bảo vệ luận văn trước hội đồng.

Điểm của thầy giáo hướng dẫn được cho trong tài liệu này như là một định hướng tham khảo, trên cơ sở các yếu tố sau, thang điểm 100 để dễ tham khảo:

CÔNG VIỆC

THANG ĐIỂM

Mức độ thời sự của đề tài, mức độ khó của đề tài.

15

Tính đúng đắn và hợp lí của thiết kế, của giải pháp được nêu ra trong luận văn. Mức độ hoàn thành công việc của sinh viên.

45

Tinh thần và thái độ làm việc: chăm chỉ, cần cù, nghiêm túc và tinh thần tự lập trong khi làm việc.

15

Khả năng đọc sách ngoại ngữ tham khảo.

5

Khả năng tổng hợp kiến thức, viết luận văn.

10

Hình thức trình bày luận văn.

5

Thời hạn hoàn thành và nộp luận văn.

5

Tổng cộng: 100 điểm

Bảng phân điểm nói trên là một định hướng tham khảo cho sinh viên phấn đấu, không có tính pháp lí, tuỳ thuộc từng thầy giáo và từng bộ môn. Bảng điểm trên đã nhận được sự ủng hộ và góp ý của Phòng đào tạo đại học, ĐHBK-HN. Chúng tôi cũng hi vọng một ngày nào đấy, các Khoa sẽ thống nhất được bảng điểm này để giúp cho sinh viên yên tâm phấn đấu làm tốt luận văn và tốt nhất là được Hiệu trưởng thông qua để có đủ giá trị pháp lí cho sinh viên phấn đấu.

Mục 1 nêu rõ mức độ khó và tính thời sự của đề tài. Với những đề tài đã quá phổ thông, thí dụ quản lí nhân sự, quản lí vật tư … bằng FoxPro thì điểm này chỉ nên cho 5 điểm hoặc 0 điểm. Nghĩa là điểm tối đa của luận văn chỉ còn 8 điểm. Đây chính là điểm khuyến khích cho học sinh giỏi, tìm đến các đề tài công nghệ mới.

Điểm bảo vệ luận văn trước hội đồng được cho trên cơ sở trình bày của sinh viên, thể hiện sinh viên thực sự làm luận văn, không vay mượn nội dung, nắm vững được các vấn đề đã học và làm, trả lời được các câu hỏi của Hội đồng.

Sau khi có điểm tổng cộng thì qui tròn theo thang điểm 10.

Lưu ý: Những gì vượt ra ngoài tầm nhiệm vụ yêu cầu đặt ra và vượt ra ngoài khả năng đáp ứng của sinh viên thì cũng nên thuyết minh rõ khi được hỏi, tránh được các câu hỏi quá tải và tránh được các câu hỏi không phù hợp nội dung đã được yêu cầu làm.

 

Điểm của người phản biện được cho dựa trên các yếu tố của mục 1, 2, 4 và 5 là chính.

Điểm của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn được cho chủ yếu trên cơ sở các mục 1, 2 kết hợp với khả năng trình bày luận văn trước Hội đồng, trả lời các câu hỏi của Hội đồng đặt ra, biết cách bảo vệ những cái mình làm ra.

 

 

 

  1. Bảo vệ luận văn

Mỗi sinh viên nên tập trung trình bày 10 phút, tối đa không quá 15 phút.

Lưu ý càng trình bày dài thì … càng ít điểm vì chứng tỏ chưa nắm vững nội dung chính của luận văn. Tránh nói quá dài về tổng quan lí luận. Hãy đi thẳng vào vấn đề:  chủ đề chính của đề tài, sinh viên đã chọn giải quyết vấn đề gì, cách giải quyết và kết quả ra làm sao. Sơ đồ càng phức tạp thì trình bày càng phải ngắn gọn, tránh nói quá chi tiết vì không đủ thời gian và các thầy cũng chẳng thích thú gì. Khi nào có thầy đặt câu hỏi thêm thì sẽ có dịp trình bày kĩ hơn. Tâm lí chung các thầy ngồi hội đồng là không thích nghe nói dài, nhất là khi có nhiều sinh viên bảo vệ luận văn.

Trước đây sinh viên phải vẽ rất nhiều bản vẽ trên giấy A0 để bảo vệ tốt nghiệp. Thời đại CNTT đã nằm trong tầm tay vì vậy cũng phải cải tiến cách trình bày, tối thiểu là tận dụng đèn chiếu để trình bày..

Cách dùng đèn chiếu (OverHead): Đây là phương án đơn giản nhất song hiện ít còn tồn tại. Hãy chuẩn bị bài trình bày (kể cả hình vẽ) trong lễ bảo vệ bằng cách sử dụng Power Point để chế bản phim chiếu.

Cỡ chữ trình bày trên phim chiếu nên tối thiểu là 14 đậm.  Nên dùng loại cỡ chữ này khi bảo vệ tốt nghiệp vì Hội đồng ít người, khoảng cách tới màn chiếu ngắn nên rất dễ xem. Các cỡ chữ to khác có thể dùng nhưng hạn chế.

Ví dụ Cỡ chữ 18 Cỡ chữ 18 đậm. Chữ Arial

Ví dụ Cỡ chữ 20 Cỡ chữ 20 đậm

Nên dùng chữ  Arial đậm để nhìn cho rõ.

Tất nhiên sinh viên có thể dùng các kiểu phông chữ khác.

Bản photocopy cho Hội đồng: Đối với Hội đồng, sinh viên nên photocopy cho mỗi uỷ viên Hội đồng một bộ sao các phim mình chiếu lên. Nếu chỉ là chữ không, có thể chụp theo chế độ 6 trang phim lên 1 trang A4 (trong Power Point đã có sẵn chế độ này, chọn print -> handout). Còn sơ đồ thì nên chụp nguyên tỉ lệ 1/1. Như vậy các thầy sẽ hoàn toàn có thể theo dõi quá trình bảo vệ lẫn toàn bộ nội dung bảo vệ để đặt câu hỏi. Có thể bổ sung thêm một trang tóm tắt luận văn hoặc một trang mục lục luận văn.

Để chế bản các hình vẽ, sơ đồ đã có lên phim, bạn có thể dùng công nghệ cắt hình và dán giấy lên một tờ giấy A4 làm bản thảo, sau đó photocopy lên phim chiếu. Đây là cách làm nhanh gọn và tiết kiệm. Nếu các chế bản này có sẵn trên máy tính thì bạn có thể in thẳng từ máy in laser ra.  Nên lưu ý mua phim chiếu loại chịu nhiệt để photocopy và in laser. Loại viết chữ bình thường có thể không chịu được nhiệt. Tốt nhất là nên thử. Có thể hỏi mua lẻ các phim chiếu này tại Trung tâm máy tính, Thư viện Bách khoa …

Để biểu diễn phần mềm, nếu có Video Projector để dùng là tốt nhất song đắt tiền khi mua: khoảng 8000 USD/máy. Video Projector là máy chiếu có thể nối thẳng vào máy tính để chiếu lên màn trắng to. Đây là trường hợp lí tưởng nhất. Nếu không có Video Projector, sinh viên có thể biểu diễn phần mềm của mình trên máy tính để bàn cũng được. Nên đấu 2 màn hình song song, một cho sinh viên nhìn, một cho hội đồng xem. Có thể thuê mượn được màn hình 21 inch thì càng tốt. Giá thuê máy chiếu nối thẳng máy tính khoảng 500.000 đ/ngày.

Trong khi bảo vệ, tuyệt đối không nên cho các thầy hút thuốc lá và uống bia. Nên cho các thầy uống nước chè, cà phê để tỉnh táo, hoặc nước hoa quả cho mát.

  1. Bảo vệ thử

Nên tổ chức tập bảo vệ thử giữa các sinh viên với nhau để tập trình bày với các mục tiêu: nói năng lưu loát, rõ ràng, ngắn gọn và căn giờ. Sau đó cần chỉnh sửa hoặc bổ sung thêm hoặc cắt đi những cái rườm rà. Nhấn mạnh và chỉ rõ cái mình làm được. Tâm lí Hội đồng ngồi cả ngày mệt mỏi nên càng phải tránh trình bày rườm rà, lòng vòng. Các bạn sinh viên trong “Hội đồng bảo vệ thử” hiểu được vấn đề mình trình bày thì có thể yên tâm được phần nào.

  1. Bố cục các phim chiếu
  • Trang phim đầu nói về Tên và Nhiệm vụ luận văn tốt nghiệp. Dưới đó ghi rõ tên Sinh viên thực hiện luận văn và thầy giáo hướng dẫn. Thí dụ về nội dung trang phim đầu tiên này:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Khoa Công nghệ Thông tin

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Đề tài: XÂY DỰNG PHẦN MỀM DẠY HỌC VẬT LÍ

Sinh viên: Phạm Việt Hà

Thầy giáo hướng dẫn: Quách Tuấn Ngọc

Nhiệm vụ đề tài:

  1. Tìm hiểu phần mềm tác giảDirector.
  2. Tìm hiểu các bài học Vật lí lớp 10.
  3. Tìm hiểu lí luận về phần mềm dạy học.
  4. Xây dựng phần mềm dạy học về Động cơ đốt trong với Multimedia.
  5. Kiểm tra thử nghiệm với một số học sinh

- Một hai phim tóm tắt về một số vấn đề liên quan đến nội dung luận văn: tình hình thực tiễn, nhu cầu sản xuất và NCKH.

- Các phim trình bày giải pháp thiết kế của mình. Đây là phần chính của luận văn. Có thể có nhiều phương án khác nhau. Lí do đưa ra phương án mình chọn.  Cách thiết kế phần cứng, phần mềm của mình. Kết quả của luận văn.

- Các phim trình bày kết quả thực nghiệm (nếu có).

- Đánh giá kết quả và kết luận.

Nên tránh

- Viết  trên phim quá chi tiết về lưu đồ thuật giải. Chỉ nên viết những cái khái quát.

- Viết quá nhiều chữ trên phim, thậm chí có người chụp nguyên bản một trang văn bản bình thường với co chữ 12 lên phim.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

   KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

ĐỀ CƯƠNG VIẾT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Họ và tên sinh viên: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Lớp: . . . . . . . . . . . . .  Hệ (chính qui, cao đẳng…) . . . . . . . . . . . . .

Thời gian làm luận văn tốt nghiệp: từ . . . . . . . . . . . . .   đến . . . . . . . . . .

Tên luận văn: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Đề cương viết luận văn: (Theo kiểu mục lục các phần, chương mục ….)

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . .

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Khuyến cáo: Dán ảnh, đặt trong bìa lót bản nộp cho giáo viên hướng dẫn. Lý do: Đơn giản là để lưu trữ sau này nhớ lại gương mặt cựu sv cho dễ.

LUẬN VĂN

TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành Công nghệ thông tin

Đề tài:

XÂY DỰNG PHẦN MỀM DẠY HỌC VẬT LÍ

Sinh viên thực hiện:      PHẠM VIỆT HẢI

Lớp K38, hệ chính qui

Giáo viên hướng dẫn:   QUÁCH TUẤN NGỌC

(Lưu ý ghi tên sinh viên trước, tên thầy sau)

(Phần này nên ghi trong bìa lót)

LUẬN VĂN ĐƯỢC THỰC HIỆN TẠI

TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN,

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO.

Hà nội  5.1998

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Phiếu giao nhiệm vụ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Lớp:                               Hệ đào tạo:

Làm luận văn tại:

Thời gian làm luận văn: Từ ngày     /     /2006  đến     /     /2006

Sinh viên: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Số điện thoại hoặc e mail:

Địa chỉ liên lạc khi cần thiết: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Giáo viên hướng dẫn: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Số điện thoại:

Gặp thầy tại:

e mail của thầy:

Nội dung và yêu cầu khi làm luận văn:

1. Hàng tuần báo cáo công việc đã làm và kế hoạch làm trong tuần tới…………..

2. Thời gian và địa điểm làm việc: …………………………………………………………………

3. Đề tài tốt nghiệp và các yêu cầu về chuyên môn:……………………………………….

……………………………………………………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………………………………………………….

……………………………………………………………………………………………………………………………..

Hà nội ngày      tháng     năm 2006

Cán bộ hướng dẫn

——————————————————————   PPT  ————————————————————————-

Trình bày báo cáo khoa học không phải là một việc dễ dàng. Trong bài này chúng ta sẽ đưa ra một vài điểm cần lưu ý khi trình bày một báo cáo khoa học.

  1. 1.    Thế nào là một báo cáo khoa học

Một bản báo cáo khoa học là một bài thuyết trình khoảng 30 – 60 phút, trước một nhóm người có trình độ cao, khả năng tiếp cận vấn đề nhanh. Tuy nhiên họ có thể chưa biết thật rõ ràng, tường tận về vấn đề mà bản báo cáo đề cập đến.

Bài viết này được rút ra từ những kinh nghiệm bản thân của tác giả qua những buổi hội thảo thuộc lĩnh vực Khoa học máy tính (Computer Science). Phương pháp, cách thức trình bày một bản báo cáo khoa học hoàn toàn khác với cách trình bày những báo cáo thương mại mà chúng ta vẫn thấy. Lý do chính của sự khác biệt này là ở mục đích và nội dung báo cáo.

Bài viết này không có tham vọng đưa ra một khuôn mẫu hoặc giải đáp tất cả thắc mắc của mọi người, tuy nhiên chúng tôi hy vọng đưa ra một số tiêu chí chung. Những tiêu chí này có thể không phải hữu ích với tất cả mọi người, vì vậy người đọc hãy lựa chọn lấy những tiêu chí phù hợp và bỏ qua những tiêu chí còn lại.

  1. 2.    Nên trình bày những gì trong một báo cáo khoa học?

Trong công việc, hãy coi những báo cáo, những buổi nói chuyện khoa học là thước đo để đánh giá quá trình nghiên cứu, tìm tòi của mỗi cá nhân. Trước khi quyết định cần trình bày vấn đề gì, hãy trả lời hai câu hỏi sau:

  • Ai là đối tượng chính của buổi báo cáo?
  • Nếu như ai đó chỉ nhớ được một vấn đề duy nhất trong bản báo cáo, chúng ta muốn đó là vấn đề nào?

Câu trả lời cho hai câu hỏi trên chính là những tiêu chuẩn để chúng ta chuẩn bị nội dung của bản báo cáo, để quyết định đề cập và không đề cập tới vấn đề nào. Một điều ghi nhớ nữa là hãy đưa ra câu trả lời của câu hỏi thứ hai cho người nghe.

2.1. Sử dụng các ví dụ

Công việc nghiên cứu của chúng ta luôn xuất phát từ thực tế. Sau khi giải quyết một loạt các vấn đề có liên quan với nhau, chúng ta đưa ra một phương pháp chung, tổng quát hoá, trừu tượng hoá giải pháp đã tìm được và đưa ra một lý thuyết chung.

Ví dụ, khi tìm hiểu một hàm số để xác định cách mà hàm số đó tính toán dựa trên các đối số đầu vào, trước hết ta đi giải thích hàm số đó bằng lời, sau đó chúng ta tổng quát hoá bằng các lời giải thích trừu tượng.

Một lỗi trầm trọng mà chúng ta thường mắc phải đó là chỉ đưa ra các phương pháp chung, các định nghĩa trừu tượng mà quên mất các ví dụ dẫn dắt tới kết quả đã nghiên cứu. Nhiều bản báo cáo khoa học trở nên quá trừu tượng, diễn giả trình bày hết slide nọ tới slide kia, trong khi đó không đưa ra các ví dụ minh hoạ cho vấn đề đang nói, vì thế hiệu quả thu được không cao.

Ví dụ là một phần quan trọng của các bản báo cáo khoa học để minh hoạ cho chủ đề mà ta đề cập tới. Khi đưa ra một định nghĩa, một cấu trúc toán học hoặc một ký hiệu mới chúng ta cần đưa ra các ví dụ để người nghe có thể hình dung và hiểu được nó. Khi đưa ra một lý thuyết mới, ta cần sử dụng các ví dụ để có thể giúp người nghe hiểu được ý nghĩa của nó trong thực tế.

Các bài viết cần phải đi sâu vào chi tiết một cách cụ thể, giải thích một cách rõ ràng, đầy đủ vấn đề cần trình bày kèm theo các ví dụ minh hoạ. Ngược lại, một buổi báo cáo không phải là công cụ để chúng ta trình bày chi tiết, mà nó chỉ có tác dụng trình bày đại thể và thuyết phục người nghe đọc bài viết của chúng ta. Một buổi báo cáo khoa học lại càng không phải là lúc để diễn giả thể hiện sự uyên thâm hay trình độ của mình.

Sử dụng các ví dụ minh hoạ trong báo cáo là mục đích chính của bài viết này vì rất nhiều báo cáo đã thất bại bởi lý do không được minh hoạ một cách rõ ràng. Trong khi chuẩn bị, hãy luôn đặt câu hỏi: “Vấn đề/ định nghĩa/ lý thuyết/ thuật toán/ công nghệ này đã được minh hoạ rõ ràng bằng các ví dụ chưa?”.

2.2. Không nên nói quá nhiều

Cần lưu ý khi trình bày một báo cáo khoa học là không nên tập trung quá nhiều vào các chi tiết hay một vấn đề nào đó, chỉ nên nói vừa đủ, sao cho toát lên được ý chính của vấn đề cần nói. Không nên làm cho người nghe phải thu nhận quá nhiều thông tin, lúc đó vấn đề sẽ trở nên nhàm chán và không mang lại hiệu quả như mong muốn. Cách tốt nhất để tránh khỏi lỗi trên là không áp dụng một công thức, một cách trình bày cứng nhắc cho bản báo cáo: tập trung sâu hơn vào một số khía cạnh, lướt hoặc bỏ qua một số khía cạnh khác, …

Trong quá trình báo cáo, nếu vì lý do thời gian ta nên tập trung vào một vài phần và bỏ qua các phần khác. Như thế sẽ tốt hơn là đưa ra tất cả ý chính một cách sơ lược mà không đi sâu vào các chi tiết hoặc trình bày vượt quá thời gian cho phép. Nếu thực hiện theo cách thứ hai, người nghe sẽ không thu nhận được những thông tin bổ ích hoặc cảm thấy chán ngấy.

Đối tượng chính trong buổi báo cáo là người nghe và mục đích của chúng ta là làm cho họ nắm được vấn đề đề cập tới. Trong số người nghe tham dự, không phải tất cả đều biết rõ về vấn đề được báo cáo, một số thậm chí còn không nắm được một chút thông tin nào. Vì vậy việc giới thiệu sơ qua toàn bộ báo cáo và những nội dung sẽ trình bày là một việc làm cần thiết, tuy nhiên ta chỉ nên dành một vài phút cho việc này và sau đó đi thẳng vào các vấn đề liên quan.

Một điều cần ghi nhớ là nếu chúng ta làm cho người nghe cảm thấy nhàm chán ngay ở những phút đầu thì việc lấy lại hứng thú cho họ là gần như không thể.

2.3. Trình bày một cách thẳng thắn

Khi trình bày một bản báo cáo khoa học không nên dấu đi những khó khăn gặp phải trong quá trình nghiên cứu. Làm như vậy không trung thực và hơn nữa không hiệu quả. Khi nêu ra những khó khăn, vướng mắc gặp phải, một số người nghe có thể cho ta những gợi ý, giải pháp hợp lý mà ta chưa hề nghĩ tới.

  1. 3.    Tính trực quan của báo cáo

Tính trực quan của một bản báo cáo là hết sức quan trọng, nó quyết định thành công của chúng ta. Khi trình bày nên sử dụng các công cụ như máy chiếu phim trong (Overhead projector), máy chiếu Multimedia (Multimedia Projector) và đôi khi là phim video. Trong khoảng thời gian báo cáo, sử dụng bảng với phấn hoặc bút viết là không nên bởi như vậy sẽ mất nhiều thời gian và không thuận tiện. Ta nên sử dụng máy chiếu Multimedia (nối trực tiếp với máy tính), nếu không có thì dùng máy chiếu phim trong. Bảng viết chỉ sử dụng để hỗ trợ khi ta cần viết hoặc minh hoạ thêm một vài ví dụ.

Trong trường hợp chúng ta cần sử dụng nhiều thiết bị (máy chiếu phim trong, máy chiếu Multimedia, phim Video), nên hạn chế sự thay đổi giữa các thiết bị này. Lý do là tiết kiệm thời gian và không làm phân tán sự tập trung của người nghe.

3.1. Công nghệ

Nên sử dụng các phim trong viết tay thay thế máy bắn chữ hoặc các công nghệ khác, trừ trường hợp chữ viết của ta quá xấu. Sử dụng phim viết tay có một số lợi điểm sau:

  • Nếu địa điểm báo cáo ở xa, ta không cần phải chuẩn bị toàn bộ phim dùng cho báo cáo trước chuyến đi. Do viết bằng tay nên ta có thể xắp xếp thời gian trống để chuẩn bị phim.
  • Sử dụng màu sắc dễ dàng, phong phú hơn.
  • Dễ dàng vẽ các biểu đồ, đồ thị, thêm vào các mũi tên, hình vẽ, … Những công việc này có thể làm bằng máy tính, tuy nhiên sẽ chậm hơn (chuẩn bị trên máy tính, rồi mới in ra phim trong).
  • Máy bắn chữ tuy tỏ ra tiện dụng, xong thời gian mà chúng ta tiêu phí khi sử dụng nó sẽ không được dành cho nội dung của báo cáo.
  • Cần giới hạn nội dung của một phim. Không nên nhiều quá và không nên ít quá. Nếu quá nhiều, người nghe sẽ rất khó nhìn thấy những gì mà chúng ta thể hiện trên phim. Nếu quá ít, hiệu quả báo cáo sẽ không cao.
  • Trong trường hợp không dùng phim viết bằng tay, ta nên dùng Font chữ với co chữ to, ít nhất là 17 để người nghe dễ đọc.
  • Nếu dùng náy tính để chuẩn bị phim trong cho báo cáo, ta cần bỏ thời gian nhiều hơn để chuẩn bị trước tất cả những phim dự định sẽ dùng, tuy nhiên hiệu quả thu lại là các hình vẽ, chữ, … đẹp hơn.

Ngoài cách dùng phim trong, ta cũng có thể sử dụng các phương tiện khác, chẳng hạn sử dụng máy tính nối trực tiếp vào máy chiếu Multimedia.

Nên dùng bút không xoá được (Permanent Ink) để viết phim trong. Loại bút này có hai ưu điểm: không bị mờ, bị xoá khi gặp nước (đề phòng trường hợp bị ướt phim) và màu sắc của nó đỡ chói hơn. Khi sử dụng loại bút này ta vẫn có thể sửa các lỗi bằng cách dùng loại tẩy dành riêng cho nó.

Nên sử dụng loại giấy thông thường để ghi những ghi chú, chú ý dành riêng cho diễn giả (chúng ta) trong khi nói. Những mảnh giấy này có tác dụng nhắc chúng ta những điểm cần trình bày, không có tác dụng đối với người nghe và được chuẩn bị trước khi báo cáo. Không nên dùng những tờ giấy pơ-luya đi kèm với phim vào mục đích này.

Nên viết phim theo chiều ngang (Landscape), như vậy chúng ta có thể viết chữ to hơn, dễ đọc hơn và giới hạn được lượng thông tin trên mỗi phim.

Sử dụng màu hoặc một số vật để che, phủ khi trình bày các ví dụ phức tạp sẽ tăng được hiệu quả. Trong một ví dụ phức tạp, đôi khi ta muốn dấu đi một vài phần hoặc nhấn mạnh một phần nào đó để tập trung sự chú ý của người nghe hoặc thể hiện quá trình thay đổi. Việc làm như vậy sẽ thu hút sự chú ý của người nghe (không bị phân tán bởi những phần chưa cần thiết, không phải đổi sang một phim mới), nhấn mạnh một số ý (tô màu hoặc chỉ hiển thị những phần cần thiết) và không phải chuẩn bị thêm phim trong.

3.2. Đưa những gì lên phim trong

Khi chuẩn bị phim chiếu (slide) cần lưu ý rằng thông tin mà người nghe thu nhận được từ chúng là rất ít. Vì vậy sáu hoặc bảy mục trên một slide là quá đủ. Điểm thứ hai là các phim chiếu không nên lặp lại những gì mà chúng ta sẽ nói, nó chỉ có tác dụng nhấn mạnh. Khi trình bày, tuyệt đối không đọc nguyên văn những gì viết trên phim chiếu mà chỉ nên nói về chúng mà thôi. Không có gì làm cho người nghe chán ngấy hơn là phải nghe diễn giả đọc chính tả lại những gì đã viết trên phim chiếu. Để tăng hiệu quả, chúng ta có thể copy những phim chiếu vào giấy và phát cho người nghe.

Thông thường, chúng ta hay bắt đầu bằng một phim chiếu liệt kê tất cả những nội dung, đề mục sẽ nói tới trong buổi báo cáo. Tuy nhiên, việc làm này làm chúng ta tốn mất một vài phút quý báu và người nghe sau đó chưa chắc đã nhớ hay hiểu thêm được chút nào. Đừng bao giờ đưa vào buổi báo cáo một phần trình bày gọi là “Giới thiệu” hoặc “Kết luận”. Tuy nhiên ta hiểu rằng đó là hai phần không thể thiếu được của một buổi báo cáo.

Trong buổi báo cáo, ta nên dùng những phim chiếu mô tả sơ lược vấn đề sẽ trình bày, chẳng hạn “Đây là vấn đề mà tôi sẽ trình bày và chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về nó”. Nó có tác dung định hướng lại tư duy của người nghe, tập trung họ vào vấn đề mà chúng ta sẽ trình bày, gợi nhớ cho họ về những câu hỏi sẽ dành cho chúng ta và hơn nữa, đó là một cách giới thiệu nhẹ nhàng, gián tiếp vấn đề sẽ nói tới. Còn một cách nữa để giới thiệu về nội dung sẽ trình bày là dùng một phim chiếu thể hiện tiêu đề của phần sẽ nói.

3.3. Chuẩn bị phim chiếu

Không nên chuẩn bị phim chiếu quá sớm. Đây là một thói quen và cách làm nên sửa đổi, nó chỉ làm cho khoảng thời gian rỗi của chúng ta nhiều thêm mà thôi. Thông thường chúng ta bắt đầu nghiền ngầm, suy nghĩ về vấn đề sẽ trình bày khoảng 1 hoặc 2 tuần trước buổi báo cáo. Tuy nhiên, chỉ nên chuẩn bị phim chiếu vào ngay buổi tối hôm trước. Điều này làm cho chúng ta nhớ và nắm rất chắc nội dung sẽ trình bày vào ngày hôm sau, mặc dù tất cả những gì cần nói có thể đã được chuẩn bị trước đó khá lâu.

Hãy loại bỏ tất cả những gì còn đọng lại trong đầu bạn từ buổi báo cáo gần đây nhất: nội dung đã trình bày, những phim chiếu cũ, … Đôi khi nội dung của những phim chiếu đó không còn phù hợp nữa và nếu ta còn nhớ tới chúng thì sẽ có một xu hướng là nội dung trong buổi báo cáo được lặp lại gần như hoàn toàn.

  1. 4.    Trình báy báo cáo

4.1. Hồi hộp

Nếu không cảm thấy hồi hộp một chút nào, đặc biệt là trước rất nhiều người không quen biết, có lẽ bạn là một người không bình thường. Chúng tôi đã tổ chức hàng trăm buổi hội thảo, báo cáo khoa học nhưng cảm giác hồi hộp trước mỗi lần đều không thể nào loại bỏ. Mỗi khi như vậy, hãy cố gắng đứng thẳng, thở sâu, thậm chí tập một bài thể dục nhẹ. Tuy nhiên đừng hy vọng rằng bạn sẽ hoàn toàn lấy lại được bình tĩnh. Nhớ rằng ngay cả những người vừa trình bày báo cáo trước bạn cũng thế thôi, họ không thoát khỏi được cái cảm giác đó.

Trong khi nói, nên hướng ánh mắt về phía người nghe và tốt nhất là nhìn thẳng vào mắt một vài người. Làm như vậy bạn sẽ tự tin hơn và người nghe cũng cảm thấy dễ chịu hơn; họ được mời tham dự một cuộc nói chuyện, một cuộc bàn luận chứ không phải tới chỉ để nghe.

4.2. Trình bày phim chiếu trong đã chuẩn bị

Một vài người khi trình bày hay sử dụng một tờ giấy che một phần phim trong, sau đó họ cho hiện dần từng dòng hoặc từng phần một. Trong một số trường hợp, cách làm như vậy là đúng và nên làm. Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều sử dụng cách này và nó gần như trở thành một thói quen cố hữu. Làm như vậy có thể giúp người nghe tập trung vào phần mà ta trình bày, tuy nhiên nó làm cho người nghe không cảm thấy thoải mái. Họ nghĩ rằng bạn không tin tưởng họ, bạn sợ rằng họ không tập trung vào báo cáo đang trình bày. Nếu có ý định sử dụng phương pháp này, hãy cân nhắc xem một phim trong có thể chia thành nhiều phim được không.

Có một số trường hợp ngoại lệ: khi muốn nhấn mạnh rằng vấn đề trình bày gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau hoặc để làm nổi bật điểm nút của vấn đề, ta nên sử dụng thủ thuật nói trên.

Ghi nhớ nên làm cho các phần của phim chiếu càng rõ ràng, càng nhìn thấy nhiều càng tốt. Vì vậy không nên đóng các phim trong thành một quyển, không nên dùng các kẹp lò xo (ring binder) để chứa phim, đặc biệt là mở-đóng chúng sau mỗi lần lấy ra, không nên tắt/bật máy chiếu mỗi khi chuyển đổi phim. Những động tác trên sẽ làm người nghe cảm thấy bản báo cáo bị gián đoạn, không thành một mạch liên tục.

Lý do để chúng ta sử dụng máy chiếu là giúp cho người nghe nhìn được nhiều nhất, vì vậy đừng làm cản trở tầm nhìn của họ. Để tránh điều này nên đặt máy chiếu một cách hợp lý, không trỏ trực tiếp vào phim trong mà nên trỏ trên màn hình. Nếu trong một phòng họp lớn, hãy sử dụng que hoặc bút trỏ nhưng chú ý là không nên chạm vào màn chiếu. Làm như vậy màn chiếu sẽ rung và làm cho người nghe khó chịu.

4.3. Thời gian

Không được nói quá thời gian cho phép. Làm như thế là ích kỉ và không lịch sự. Nói quá dài, chúng ta sẽ bị người dẫn chương trình cắt ngang, hoặc làm cho những người còn lại phải nói ngắn gọn hơn, hoặc làm cho buổi hội thảo kết thúc muộn. Trong mọi trường hợp, sự chú ý của người nghe là có giới hạn và những gì chúng ta cố nói thêm sẽ không hữu ích.

Những người có kinh nghiệm thường đặt thời gian trình bày cho mỗi phim chiếu; thông thường là 2 hoặc 3 phút. Khi đó ta ngầm đặt một điểm mốc trong mỗi phim và mỗi lần nói tới mốc đó ta lại kiểm tra thời gian bằng đồng hồ một lần.

Nên thêm một vài phim chiếu ở cuối, đề phòng trường hợp kết thúc quá sớm ta sẽ dùng tới chúng. Tuy nhiên tốt nhất là sắp xếp thời gian nói sao cho vừa đủ, không phải dùng tới những phim chiếu “câu giờ” này.

  1. 5.    Kết luận

Như đã trình bày ở đầu bài viết, đây hoàn toàn là những kinh nghiệm chúng tôi rút ra từ thực tế, do đó nó có thể có ích đối với một vài người và hoàn toàn vô nghĩa đối với một vài người khác. Dù sao chúng tôi cũng mong rằng bài viết này đem lại một chút lợi ích nào đó cho người đọc. Chúng ta hãy lựa chọn những gì phù hợp và bỏ qua những cái còn lại. Điểm quan trọng nữa là hãy vận dụng những gì ta có được một cách linh hoạt. Hy vọng rằng những kỹ năng đã trình bày sẽ đem lại người đọc những thành công nhất định trong việc trình bày các báo cáo khoa học.


mọi thông tin liên hệ

01676800799 – chaungochuynh15@yahoo.com.vn – chaungochuynh.go@gmail.com – namtranchan.go@gmail.com

Nam Trần Chân

  1. Đăng
    27/08/2011 lúc 5:45 chiều

    Bài viết hay, rất cám ơn đã chia sẻ ..chúc mày sẽ luôn thành công trong công việc cũng như cuộc sống nha..hehe

    • 01/09/2011 lúc 10:47 sáng

      Thanks nha bạn hiền.
      kiến thức thôi mà chia sẽ với mọi người muốn tìm hiểu.
      chúc bạn hiền mau chóng đi đến thành công nha

  2. 01/09/2011 lúc 10:38 sáng

    Cái này mới nè.

  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: